Mạng 5G Việt Nam đang vận hành với 40.000 trạm phát sóng trải rộng cả nước, thế nhưng theo đánh giá của các chuyên gia tại hội thảo World Mobile Broadband & Cloud AI Summit 2026, hiệu suất khai thác thực tế toàn bộ hạ tầng mới chỉ đạt khoảng 20%.
Mạng 5G Việt Nam đang vận hành với 40.000 trạm phát sóng trải rộng cả nước, thế nhưng theo đánh giá của các chuyên gia tại hội thảo World Mobile Broadband & Cloud AI Summit 2026, hiệu suất khai thác thực tế toàn bộ hạ tầng mới chỉ đạt khoảng 20%. Hạ tầng đã được đầu tư quy mô nhưng hiệu quả khai thác và khả năng tạo doanh thu vẫn là thách thức lớn cho ngành viễn thông Việt Nam, trong bối cảnh thảo luận về 6G ngày càng xuất hiện nhiều dù 5G chưa khai thác hết tiềm năng.
![]() |
| “May đo" công nghệ 5G, hướng đi mới của VNPT |
Chiều 23/4/2026, tại Hà Nội, phiên tọa đàm “Tầm nhìn từ các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông” trong khuôn khổ Hội thảo World Mobile Broadband & Cloud AI Summit 2026 đã quy tụ đại diện của các nhà mạng tại Việt Nam, Cục Tần số vô tuyến điện cùng các nhà nghiên cứu và chuyên gia trong lĩnh vực viễn thông. Mạng 5G Việt Nam, tốc độ phát triển hạ tầng và những câu hỏi về giá trị kinh tế thực sự là trục thảo luận xuyên suốt phiên tọa đàm.
Các chuyên gia chỉ ra, Việt Nam hiện có khoảng 40.000 trạm phát sóng 5G, trong đó Viettel đóng góp 30.000 trạm, VNPT đạt khoảng 6.000 trạm và MobiFone xấp xỉ 3.000 trạm. Quy mô triển khai đưa Việt Nam vào nhóm quốc gia mở rộng hạ tầng 5G nhanh, song hiệu quả khai thác thực tế lại bộc lộ nhiều vấn đề cần nhìn nhận rõ hơn.
![]() |
| Các diễn giả tại phiên tọa đàm "Tầm nhìn từ các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông" trong khuôn khổ World Mobile Broadband, Cloud & AI Summit & Awards 2026, chiều 23/4 tại Hà Nội |
Chuyên gia viễn thông Lê Đăng Dũng, Chủ tịch công ty Stavian HighTech (nguyên Chủ tịch Viettel) nhận định toàn bộ 30.000 trạm 5G của Viettel hiện nay chủ yếu phục vụ băng rộng di động cho người dùng cuối, tức vận hành theo mô hình của mạng 4G. Các ứng dụng từng được kỳ vọng từ 5G như xe tự lái, thành phố thông minh, nhà máy tự động vẫn chưa xuất hiện trên quy mô thực tế. Hiệu suất khai thác toàn bộ hạ tầng 5G Việt Nam theo ước tính của ông chỉ đạt khoảng 20%. Theo ông, phần lớn người dùng hiện khai thác 5G tương tự 4G, tập trung vào lướt web, xem video, ngân hàng điện tử và mua sắm trực tuyến, với những nhu cầu đó, tốc độ của 4G đã đáp ứng đầy đủ từ nhiều năm trước.
Ông Đoàn Quang Hoan, Phó Chủ tịch Hội Vô tuyến – Điện tử Việt Nam (nguyên Cục trưởng Cục Tần số vô tuyến điện) trước đó có nhiều năm tham gia trực tiếp vào các nhóm làm việc của ITU (Liên minh Viễn thông Quốc tế), lý giải thêm trong cuộc trao đổi riêng với phóng viên Điện tử và Ứng dụng. Theo ông, người dùng cá nhân hiện nay xem phim trực tuyến chứ không cần tải về, dùng mạng xã hội và thanh toán điện tử là những tác vụ hoàn toàn nằm trong khả năng của 4G. Những kịch bản ứng dụng thực sự tạo ra sự khác biệt của 5G so với thế hệ trước đều thuộc nhóm B2B, tức phục vụ doanh nghiệp, khu công nghiệp, đô thị thông minh, chứ không phải người tiêu dùng đại trà.
Chuyên gia Lê Đăng Dũng cho rằng, chi phí đầu tư cho hạ tầng 5G cao hơn 4G từ 3 đến 4 lần, tần số cho 5G đắt hơn hẳn, thiết bị trạm thu phát tốn kém hơn nhiều, toàn bộ hệ thống nguồn điện của trạm phải nâng cấp lại và chi phí vận hành tăng theo. Trong khi đó, doanh thu hiện tại từ 5G không vượt trội so với 4G bởi người dùng chưa sẵn sàng trả thêm tiền cho tốc độ cao hơn khi nhu cầu sử dụng thực tế không đòi hỏi điều đó.
![]() |
| Chuyên gia Lê Đăng Dũng, Chủ tịch công ty Stavian HighTech, nhận định hiệu suất khai thác thực tế toàn bộ hạ tầng 5G Việt Nam hiện nay ước tính chỉ đạt khoảng 20%, chủ yếu do thiếu các ứng dụng B2B đúng nghĩa. |
Ông Đoàn Quang Hoan dẫn kinh nghiệm quốc tế để lý giải vì sao 5G khó hoàn vốn khi thiếu khách hàng B2B có nhu cầu sử dụng ở mức cao. Tại Trung Quốc, chính phủ đầu tư phát triển đô thị thông minh và giữ vai trò khách hàng chủ lực của các nhà mạng. Mô hình này tạo ra nhu cầu băng thông thực tế, từ camera nhận diện hình ảnh, cảm biến môi trường, hệ thống giao thông thông minh đến giám sát đô thị. Ông tính toán rằng nếu Việt Nam đạt tỷ lệ tương đương Trung Quốc theo đầu người với dân số 100 triệu người thì cần tới 70 triệu camera thông minh, trong khi Hà Nội hiện mới có vài chục nghìn. Khoảng cách đó phản ánh dư địa phát triển, đồng thời lý giải vì sao các nhà mạng vẫn chưa thu hồi được vốn đầu tư từ những ứng dụng mà 5G hướng tới.
Cũng theo ông, thời gian để một thế hệ mạng di động phát huy giá trị kinh tế thực sự thường kéo dài từ 6 đến 9 năm kể từ khi triển khai. Lấy mốc 2024 khi Việt Nam cấp phép 5G thương mại, thì năm 2030 là thời điểm sớm nhất mà 5G có thể bắt đầu vượt 4G về giá trị mang lại, và điều đó chỉ xảy ra nếu các ứng dụng AI, network slicing và IoT thực sự cất cánh.
Trong khi bài toán hoàn vốn còn chờ lời giải, MobiFone chia sẻ một hướng đi khác. Ông Nguyễn Tuấn Huy, đại diện MobiFone tại phiên tọa đàm, cho biết MobiFone hiện đảm nhận đồng thời cả vai trò nhà mạng truyền thống lẫn đơn vị triển khai đô thị thông minh, dịch vụ công và chính phủ điện tử. Chính khi làm những việc phục vụ quốc gia như vậy, hạ tầng 5G Advanced mà MobiFone đang đầu tư mới bắt đầu thể hiện được giá trị của mình.
![]() |
| Ông Nguyễn Tuấn Huy, Phó Trưởng ban Công nghệ MobiFone, chia sẻ rằng chỉ khi đảm nhận các dự án đô thị thông minh, sân bay thông minh và dịch vụ công, hạ tầng 5G Advanced mà MobiFone đang đầu tư mới bắt đầu phát huy giá trị thực sự. |
Theo ông Huy, việc chỉ bán băng thông cho người dùng cá nhân thì gần như không thể hoàn vốn với chi phí đầu tư 5G. Song khi mạng 5G được dùng để truyền tải dữ liệu từ hàng chục triệu camera giám sát, để vận hành sân bay thông minh và hỗ trợ các hệ thống điều phối đô thị, câu chuyện tài chính mới bắt đầu có lý hơn. MobiFone hiện đang thực hiện một số dự án thành phố thông minh và cung cấp API mở cho doanh nghiệp bên ngoài, theo mô hình mà Singapore đã áp dụng để xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đô thị.
Ông Huy cũng nhắc đến 5G Advanced với công nghệ phân chia mạng thành nhiều lớp dịch vụ riêng biệt (network slicing), tức là khả năng tạo ra các lớp mạng riêng biệt cho từng ngành công nghiệp cụ thể với yêu cầu băng thông và độ trễ khác nhau. Ở thế hệ 5G tiêu chuẩn, network slicing mới ở mức lý thuyết, còn 5G Advanced mới bắt đầu thực thi được điều này trong thực tế.
Ông Lương Xuân Trường đại diện Cục Tần số vô tuyến điện cho biết Việt Nam hiện có mức độ sẵn sàng về băng tần cho 5G thuộc nhóm cao nhất khu vực. Kết quả đó xuất phát từ quá trình tham gia sâu vào các nhóm làm việc của ITU và 3GPP trong nhiều năm, giúp Việt Nam nắm bắt sớm các định hướng quy hoạch tần số và giải phóng băng tần kịp thời cho triển khai thương mại.
![]() |
| Ônng Phạm Quốc Việt, đại diện VNPT, lý giải chiến lược đầu tư 5G của VNPT dựa trên đặc tính băng tần được cấp phép, thay vì chạy theo số lượng trạm, là yếu tố giúp VNPT giành giải thưởng chất lượng dịch vụ 5G tại Barcelona dù chỉ có 6.000 trạm so với 30.000 trạm của Viettel |
Mỗi nhà mạng đang có chiến lược triển khai khác nhau tùy theo băng tần được cấp phép. Ông Phạm Quốc Việt đại diện VNPT giải thích chính băng tần sẽ quyết định mô hình đầu tư và lộ trình khai thác. VNPT xác định băng tần của mình phát huy hiệu quả nhất ở kịch bản nào thì triển khai theo kịch bản đó, thay vì chạy theo số lượng trạm. Đây là lý do VNPT chỉ có 6.000 trạm nhưng vẫn giành giải thưởng chất lượng dịch vụ 5G tại Barcelona.
Cục Tần số Vô tuyến điện cũng đang quan tâm đến hai lĩnh vực đòi hỏi quy hoạch tần số riêng trong thời gian tới. Thứ nhất là đường sắt cao tốc Bắc Nam vừa khởi động, với các yêu cầu kết nối vừa có độ trễ thấp cho điều khiển, vừa đảm bảo trải nghiệm tốc độ cao cho hành khách. Thứ hai là hệ thống UAV vận tải tự động, nơi tần số có thể được quy hoạch riêng hoặc chia sẻ từ hạ tầng nhà mạng sẵn có. Cả hai đều là cơ hội để nhà mạng mở rộng mô hình kinh doanh ra ngoài băng rộng tiêu dùng thông thường.
Việt Nam là một trong số ít quốc gia thành lập Ban Chỉ đạo 6G từ khá sớm. TP. Hồ Chí Minh thậm chí công bố kế hoạch thử nghiệm 6G trong năm 2026. Tuy nhiên, Phó Chủ tịch Hội Vô tuyến – Điện tử Việt Nam đặt câu hỏi thử nghiệm 6G bằng gì khi 5G Advanced còn chưa ai triển khai thực sự?
![]() |
| Ông Đoàn Quang Hoan, Phó Chủ tịch Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam, đặt thẳng câu hỏi về kế hoạch thử nghiệm 6G tại TP.HCM năm 2026 khi 5G Advanced còn chưa được triển khai thực sự tại Việt Nam |
Trong cuộc trao đổi riêng với phóng viên Điện tử và Ứng dụng, ông Đoàn Quang Hoan phân tích rõ hơn về bản chất của 6G. ITU vừa hoàn thiện khung kỹ thuật IMT 2030 vào tháng 2/2025 với sáu kịch bản ứng dụng, trong đó có hai kịch bản gắn trực tiếp với trí tuệ nhân tạo. Kịch bản thứ nhất là AI native, tức là tích hợp trí tuệ nhân tạo vào lõi của mạng để người dùng có thể xử lý bài toán AI ngay trên thiết bị đầu cuối mà không cần kết nối lên đám mây. Kịch bản thứ hai là ISAC, tức cảm biến và truyền thông tích hợp, cho phép trạm thu phát vừa truyền dữ liệu vừa hoạt động như một hệ thống radar để phân tích môi trường xung quanh và tự điều chỉnh thông số.
Phó Chủ tịch Hội Vô tuyến – Điện tử Việt Nam cho rằng con đường hợp lý nhất với Việt Nam hiện nay là tập trung khai thác cho hết 5G tiêu chuẩn, rồi nâng cấp lên 5G Advanced, đặc biệt mở rộng các ứng dụng thành phố thông minh và nhà máy tự động. Riêng với 6G, Viettel với tư cách vừa là nhà khai thác vừa là nhà sản xuất thiết bị sẽ phải tham gia nghiên cứu và phát triển 6G từ sớm để theo kịp vòng chuẩn hóa toàn cầu. Song quy mô triển khai thương mại 6G, nếu có, khả năng chỉ dừng ở trung tâm Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn đầu.
Ông cũng chỉ ra ba tầng năng lực mà Việt Nam còn thiếu để tham gia thực sự vào hệ sinh thái 6G. Tầng khoa học cơ bản tại các trường và viện nghiên cứu còn rất ít công bố quốc tế trong lĩnh vực này. Tầng nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp gần như chỉ có Viettel tham gia vì có mục tiêu cụ thể là sản xuất thiết bị. Tầng chuyên gia kỹ thuật cao cũng bị giảm do nhiều năm qua cơ quan nhà nước hạn chế cử người tham gia thường xuyên vào các tổ chức tiêu chuẩn quốc tế như 3GPP hay ITU.
Bên cạnh câu chuyện 5G và 6G, Hội thảo cũng ghi nhận một thông tin nổi bật về hạ tầng kết nối quốc tế. Chuyên gia Lê Đăng Dũng cho biết, Công ty Stavian HighTech đang xây dựng tuyến cáp quang biển tên Vista, kết nối Việt Nam với Singapore, Thái Lan và Malaysia, với điểm cập bờ tại Vũng Tàu và TP. Hồ Chí Minh có tới 10 đôi sợi quang.
![]() |
| Chuyên gia Lê Đăng Dũng chia sẻ Công ty Stavian HighTech đang xây dựng tuyến cáp quang biển tên Vista, kết nối Việt Nam với Singapore, Thái Lan và Malaysia, với điểm cập bờ tại Vũng Tàu và TP. Hồ Chí Minh có tới 10 đôi sợi quang. |
Hiện nay, tuyến cáp biển có dung lượng cao nhất của Việt Nam là ADC vào Quy Nhơn chỉ có một đôi sợi. Tuyến Vista với 10 đôi sợi đồng nghĩa với năng lực truyền tải gấp gần 10 lần toàn bộ dung lượng cáp biển mà Việt Nam đang có cộng lại. Mỗi đôi sợi hiện nay có thể truyền tải 20 Tbps và công nghệ dự kiến nâng lên 50 Tbps ngay trong năm 2026. Vista là tuyến cáp biển do doanh nghiệp sở hữu và vận hành độc lập (private), không tham gia bất kỳ liên minh đầu tư chung nào (consortium), ông Lê Đăng Dũng nói.
Lý do thúc đẩy dự án xuất phát từ cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư trung tâm dữ liệu trong khu vực ngày càng lớn, khi Thái Lan, Malaysia và Indonesia đồng loạt mở rộng hạ tầng trung tâm dữ liệu (data center) để đón làn sóng ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Việt Nam vẫn còn vướng một số quy định trong luật dữ liệu khiến nhiều đối tác nước ngoài chưa thể triển khai đầu tư ngay, trong khi ông Lê Đăng Dũng cho rằng mỗi ngày chậm trễ điều khiến Việt Nam giảm lợi thế trong cuộc đua thu hút dòng vốn công nghệ. Chính phủ đã quy hoạch 9 tuyến cáp biển đến năm 2030, song thị trường cáp quang toàn cầu đang thiếu nguồn cung, thời gian chờ lắp đặt kéo dài do lịch đặt hàng của các đơn vị thi công kín trong nhiều năm, khiến mục tiêu hoàn thành toàn bộ 9 tuyến đúng tiến độ đối mặt nhiều áp lực.
Việt Nam đã xây dựng được hạ tầng 5G phủ sóng khắp Việt Nam, nhưng giá trị kinh tế mà mạng lưới tạo ra vẫn phụ thuộc vào khả năng hình thành các ứng dụng thực tiễn và nhóm khách hàng đủ sức tạo nhu cầu sử dụng ổn định, bởi câu hỏi quan trọng hiện nay không nằm ở việc 5G hay 6G sở hữu tốc độ cao hơn mà nằm ở việc thị trường nào, ngành nào và khách hàng nào sẽ tạo ra dòng doanh thu đủ lớn để khai thác hiệu quả hạ tầng đã đầu tư.
Công ty Cổ phần Đầu tư Hạ tầng Viễn thông VTEL là đơn vị hoạt động trong lĩnh vực viễn thông và công nghệ, chuyên cung cấp các giải pháp Internet, hạ tầng mạng và dịch vụ số hiện đại. VTEL tập trung nâng cao chất lượng kết nối, đảm bảo ổn định và đáp ứng nhu cầu chuyển đổi số cho cá nhân và doanh nghiệp.
Thứ 2 đến thứ 6: 8h00 - 17h30
Thứ 7: 8h00 - 12h00
Chủ nhật: Nghỉ